.:C16:.

<< Học hết sức - Quậy hết mình >>
 
Trang ChínhPortalThành viênCalendarTìm kiếmĐăng kýTrợ giúpNhómĐăng Nhập

Share | 
 

 Lòng thương xót - Bí tích hòa giải

Go down 
Tác giảThông điệp
Lopchuongc16
Admin
Admin
avatar

Nam
Tổng số bài gửi : 766
Age : 26
Location : C16- THPT Trần Phú
Tên : Student
Chức vụ hiện tại : Lớp trưởng C16
Registration date : 05/02/2008

Bài gửiTiêu đề: Lòng thương xót - Bí tích hòa giải   Thu Apr 03, 2008 4:05 pm

Bí tích Hoà Giải – Lòng thương xót.



"Anh em nghĩ sao? Ai có một trăm con chiên mà có một con đi lạc, lại không để chín mươi chín con kia trên núi mà đi tìm con chiên lạc sao?13 Và nếu may mà tìm được, thì Thầy bảo thật anh em, người ấy vui mừng vì con chiên đó, hơn là vì chín mươi chín con không bị lạc.14 Cũng vậy, Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất.”[1]



1. Cây mầm trên Đất Việt.



Sự tích “Âu Cơ” vọng về một quá khứ của cộng đồng Bách Việt chạy dài từ ven biển bán đảo Sơn Đông, qua ven biển vùng hồ Động Đình vốn xưa đã là trung tâm của họ Viêm đế Thần nông, gốc họ Hồng Bàng, qua vịnh Bắc Bộ, đến cửa Hội Thống, chỗ rẽ vào Ngàn Hống, nơi Kinh Dương Vương xây dựng Kinh thành. Hình tượng bọc Âu Cơ là hình tượng quả bầu Bách Việt, để truyền lại cho con cháu lời răn bảo:

“Bầu ơi thương lấy bí cùng.

Tuy rằng khác giống mà chung một giàn”

Lời nhắn nhủ ấy ăn sâu trong tâm thức người Việt, như vườn ươm hiếu hoà mà hôm nay hướng về “Bí tích hoà giải” .


2. Cây mầm hiếu hoà.

Cây mầm hiếu hoà trên đất Việt sinh trưởng trong những hoàn cảnh đặc biệt, mang lại những hoa trái nhất định :

“Con một mẹ, hoa một chùm,

Thương nhau nên phải bọc đùm lẫn nhau.”

Câu ca dao ấy, luôn luôn nhắc nhủ con cháu sau này, có lớn lên, có giàu, có nghèo, có đau, có phúc lấy nghĩa của tình thương mà đối xử với nhau. Ai cũng lớn lên trên cùng một đất mẹ, uống chung một bầu sữa, nói một tiếng mẹ và sống trong một tình mẹ chở che. Việc yêu thương nhau từ gốc một mẹ ấy mà sống thuận hoà với nhau.

“Khôn ngoan đối đáp người ngoài.

Gà chung một mẹ chớ hoài đá nhau”

Tình yêu thương kết nên mối hiếu hoà. Trong câu thường nói của người Việt Nam khi chỉ đến người khác, người Việt Nam thường nói đến từ ngữ “người ta”. Cụm từ đơn giản nhưng mang một ý nghĩa rất sâu sắc :Trong người có ta, trong ta có người. Người ở trong ta, ta ở trong người, khi chỉ đến người khác ta nhưng ta lại không khác người. Triết lý âm dương bàng bạc trong câu nói người Việt Nam để diễn dịch ý nghĩa “ trong âm có dương trong dương có âm”. Anh hưởng từ tư duy đến cách sống nên người Việt cũng lấy :”dĩ hoà vi quý” làm nguyên tắc sống hài hoà. “Thương người như thể thương thân”. Chính từ lối tư duy ấy mà người Việt có lối sống quân bình. Hài hoà với thiên nhiên, hài hoà với con người, hài hoà với vạn vật để cuối cùng cho chính mình tìm thấy hạnh phúc.

Trọng tính hài hoà, để mưu cầu lấy phúc, người Việt ý thức rằng “không ai là một ốc đảo”, sống là sống chung, sống với, gắn liền cuộc sống của mình với người khác. Sự gắn bó này mạnh cho đến nỗi:”bán anh em xa, mua láng giềng gần”. Làng nước là cụm từ quen thuộc nữa trên môi miệng người Việt. Từ phạm vi cá nhân cũng như phạm vi xã hội; từ việc cá nhân cũng như việc của cộng đồng cũng luôn sử dụng từ ngữ này. Nói chung Nước Việt ở trong vùng văn hoá nông nghiệp, nền văn hoá ấy được xây dựng trên nền tảng “Làng”, lấy văn hiến làng làm cơ sở kiến quốc. Từ ngữ làng gắn liền với nước là như thế. Khi hoạn nạn người ta kêu: “làng nước ơi”, khi nói ra cho mọi người, người ta cũng nói: “Trình làng nước”.

“xóm giềng là nghĩa chí thân,

hoạn nạn tương cứu, phú bần tương tri”

Sống được với nhau hẳn đó cũng là một nền “nhân bản” đúng nghĩa Kitô giáo, theo Lời Chúa Giêsu dạy: “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em” .

Trong khung cảnh làng nước xưa ấy, không có cảnh thầy thợ, chủ tớ, bóc lột, bất công.

“cơm ăn chẳng hết thì treo,

việc làm chẳng hết thì kêu láng giềng”

Người nhà quê có thói quen làm đổi công cho nhau, người nhà này sang làm cho nhà kia, đến bữa thì ăn chung, nhà có thì đãi đằng thêm món thịt, nhà chẳng có thì cơm canh cá cũng xong. Hết việc nhà nọ thì làm cho nhà mình hoặc nhà nào khác. Giả như trong nhà có việc tang hay cưới, làng xóm kéo đến, mỗi người một tay, ai biết gì thì phụ nấy, chẳng ai tính công, ai cũng coi việc nhà khác như việc nhà của mình. Tinh thần làng xóm hỗ tương đó, nào có mấy khi tranh chấp, cãi vã. Quê hương cũng thanh bình từ những cái tình ấy, nên mỗi quê cũng có những “đất lề quê thói” nào đó, nhưng tựu trung nét đặc biệt nhất mà có thể thấy được là tinh thần hiếu hoà: “lấy chín bỏ làm mười” để rồi tự răn mình:

“Ở cho phải phải, phân phân.

Cây đa cậy thần, thần cậy cây đa”.

Cho nên cụm từ quen trên môi miệng “người ta” là kết quả trong cuộc sống giao hảo nhiều lắm. Từ khi ấy người ta biết sống và người ta cũng biết chết cho có ý nghĩa:

“Giúp nhau là nợ đồng lân.

Trời đất xoay vần, kẻ trước, người sau.

Chưa ai ba họ cùng giàu.

Chưa ai nghèo khó đến đâu ba đời.

Sống trên đời cùng nhau cấy cày,

Thác buông tay giàu mấy cũng không !

Hay chi độc dạ tham lòng.

Sao bằng để một tiếng “Trong” ở đời”.

Từ những quan niệm bình dân như thế, người Việt cũng nhắm tới việc đào luyện bản thân, trong cách ăn ở, lối cư xử, đến phẩm giá, đến nhân cách, chứ không để ý đến việc giàu nghèo hơn thua. Cái quan trọng trong đời sống cộng đoàn là có sống được với nhau không? Nếu không sống được với nhau người ta chỉ cón cách bỏ làng lên rừng mà sống một mình. Đời sống nông thôn có tính cách tập thể rất cao đưa tới sự Hiệp Nhất, hiệp nhất trong cùng một huyết thống, hiệp nhất trong cùng một xóm ngõ, đến hiệp nhất trong cùng một làng một nước. Chúng ta thấy tục giao hiếu giữa các làng xã là bằng chứng.

Theo tác giả Toan Ánh: “làng xóm Việt Nam có tục giao hiếu giữa hai hoặc nhiều làng. Về phương diện tế tự, sự giao hiếu giữa nhiều làng còn nhắm mục đích tương trợ lẫn nhau, hoặc tạo thân tình giữa dân những làng lân cận”. Giao hiếu cũng là cách thức bày tỏ tính cách hiếu hoà của người Việt xưa, người ta thường tổ chức lễ hội giao hiếu này vào Mùa Xuân, những làng giao hiếu tổ chức những đám rước quan viên lẫn nhau, gọi là rước giao hiếu. Làng này rước đến làng kia tuỳ theo năm làng nào đứng ra tổ chức thay phiên. Sau khi vào đình tế lễ thần, họ tham dự bữa tiệc, hát xướng với nhau.

Nếu có điều gì mích lòng nhau, người Việt xưa dùng cách nói khéo hay dùng những người có tài giao hảo làm trung gian để hoà giải. Không ai muốn nuôi giận mãi, bởi vì “Giận quá mất khôn”, hơn nữa vì một dòng máu con Việt : “Máu chảy đên đâu, ruồi bâu đến đấy” có ích gì khi người ta giận nhau.

Tinh thần làng nước xưa ấy tiếp nhận Tin Mừng Chúa Giêsu qua các vị Thừa sai tiên khởi, đã làm ngạc nhiên đối với nhiều người, đến nỗi người ta không biết gọi là đạo gì, nên gọi theo những gì người ta thấy, đó là “đạo những người thương nhau”. Trong tâm khảm người Việt đã có một mảnh đất tình thương màu mỡ, như mảnh đất sẵn sàng đón nhận và sinh hoa kết trái hạt giống Tin Mừng đón nhận.

Tính cách làng xóm xưa ấy, đẹp như hình ảnh của cộng đoàn tín hữu tiên khởi chứ có kém gì: “Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau” (Cv 3, 44). Cái giàu cái nghèo nếu biết đem chia sẻ cho nhau như trong tình làng nước thì xã hội chẳng công bình sao? Tự trong nền văn hoá dân tộc đã có một tiền Phúc âm, nếu lấy những nét đẹp trong truyền thống làm nổi bật tính Tin Mừng, thì thấy rằng Tin Mừng đã trở thành cuộc sống, ăn rễ sâu trong nền văn hoá rồi. Đức Hồng y Ratzinger nhận định rằng: “Đức Tin tự nó là văn hoá. Không có đức tin trần trụi, cũng chẳng có văn hoá thuần tuý”.

Tinh thần hiếu hoà của người Việt là một điểm son trong nền văn hoá, ước gì truyền thống ấy ngày càng bén rễ sâu trong lòng dân tộc, nhất là nơi những người Kitô hữu, những người lãnh nhận sứ vụ xây dựng hoà bình trên trái đất.

_________________



Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://c16vuilachinh.forumandco.com
Lopchuongc16
Admin
Admin
avatar

Nam
Tổng số bài gửi : 766
Age : 26
Location : C16- THPT Trần Phú
Tên : Student
Chức vụ hiện tại : Lớp trưởng C16
Registration date : 05/02/2008

Bài gửiTiêu đề: Re: Lòng thương xót - Bí tích hòa giải   Thu Apr 03, 2008 4:05 pm

3. Kết cỏ ngậm vành.

Tính cách hiếu hoà của tiên tri Giêrêmia, một cách nào đó như phác hoạ lại một phần tâm hồn người Việt. Vốn là con người hiền hoà nhưng lại được đặt trong một địa thế nhỏ bé giáp với quốc gia rộng lớn để rồi cứ bị ăn hiếp. Giêrêmia sinh ra trong một gia đình phụ cận Giêrusalem vào lối năm 615 BC. Được Thiên Chúa kêu gọi lúc rất còn trẻ, năm 626 BC, ông đã sống trong những thời kỳ bi thảm: Thời vương quốc Giuđa từ từ bị sụp đổ và bị tiêu diệt. Thời cải cách tôn giáo của Giôsia, đã khơi lên những hy vọng, và niềm hy vọng ấy bị tiêu tan ngay sau đó với cái chết của nhà Vua ở Mơ- ghit- đô. Chứng kiến sự sụp đổ của Ninivê, sự bành trướng của đế quốc Canđê. Nhìn thấy lịch sử dân mình chịu 2 cảnh lưu đày vào năm 597 và năm 587 BC. Chính ông cũng bị bắt bớ, giam cầm, nhiều lần suýt chết. Bản thân ông là một con người hiếu hoà, sinh ra để yêu thương, mang trong tâm hồn đa cảm, nhưng ông lại được “sai đi để nhổ, để lật để huỷ, để phá”. Ong ước ao sự bình yên, song ông luôn luôn phải đấu tranh với người của mình, với nhà vua, với ngôn sứ , để khiến người ta nói ông là “con người gây gỗ bất hoà đối với cả xứ” (Gr 15, 10) . Tâm hồn đa cảm của ông dễ bị tổn thương và nhiều lần ông cũng kêu xin Thiên Chúa: “Tại sao đau khổ của tôi cứ liên tục?” (Gr 15, 18) và có lúc cũng trách “vô phúc cho cái ngày mà tôi sinh ra” (Gr 15, 18).

Lịch sử Việt Nam cũng đã trải qua những thăng trầm như vị ngôn sứ, để rồi trong tính cách hiếu hoà cũng chịu sự tổn thương nhiều cách, có lúc mặn mà nhưng có lúc cũng nhạt nhoà.

Chiến tranh, ngàn năm sống dưới ách đô hộ Trung Hoa, trăm năm là miếng mồi gianh xé của Châu Âu. Khi bình an thiếu vắng lòng người cũng bất an, những tỵ hiềm xâu xé, những cái xấu của lòng ghen ghét chiếm hữu len lỏi vào tâm hồn, những tương quan bị rạn nứt. Do đó, không thể không có lúc phải trở về sống tinh thần hoà giải, sám hối để chất sống trả lại sự tinh tuyền của nét hài hoà, kiếm tìm sự bình an.

Kết cỏ ngậm vành là câu thành ngữ Việt mang sắc thái của thành ngữ điển tích Trung Hoa. Kết cỏ ngậm vành dịch từ tiếng Hán: “Kết thảo hàm hoàn”. Thảo là cỏ, kết thảo nghĩa là kết cỏ. Hoàn là vành cũng nghĩ là vòng, hoàn hàm có nghĩa ngậm vành.

Kết thảo hoàn hàm được lấy ra từ hai điển tích khác nhau. Kết thảo lấy trong Tả truyện, hoàn hàm lấy trong truyện Dương Thực thời Hán.

Sách Tả truyện chép: Nguỵ Thù có con trai là Nguỵ Khoả, lúc sắp hấp hối ông dặn con, khi cha chết phải chôn theo cả người vợ lẽ hiền dịu của cha nữa. Khoả nghe nhưng cho đấy là lời mê loạn của người trong cơn bệnh, nên không làm theo lời dặn đó. Chàng cho người vợ lẽ của cha về nhà đi lấy chồng. về sau, khi Nguỵ Khoả được phong tướng, đem quân đi đánh nhau với Đỗ Hồi. Đang giữa trận ác chiến, bỗng nhiên Đỗ Hồi ngã ngựa và Nguỵ Khảo bắt sống. Đêm ấy, Khoả nằm mộng thấy có ông già râu tóc bạc phơ đến tạ và nói: Lão đây là thân sinh của người thiếp đã được ông cứu sống. Cám ơn ấy, lão đã kết cỏ làm vướng chân ngựa của Đỗ Hồi để ông bắt sống. Đó là chút công đức, xin báo đáp ông.

Hàm hoàn có tích truyện: Truyện rằng, đời Nhà Hán bên Trung Quốc có người con trai tên là Dương Thực, năm lên 9 tuổi, khi dạo chơi ở sườn núi Bắc Hoa Âm, Dương Thực bắt được một con chim bị thương nằm sõng soài bên vệ đường, Dương Thực mang con chim về nhà mình nuôi, cho ăn uống và chăm sóc rất cẩn thận. Đến khi chim khoẻ, vết thương lành lạnh, có thể vỗ cánh bay đi kiếm ăn được, Dương Thực mới thả chim ra. Ít đêm sau, một tối trời sao sáng, Dương Thực mộng thấy con chim về báo ơn, tự xưng là sứ giả của Tây Vương Mẫu, mỏ cắp một vòng bạc biếu Dương Thực và nói rằng, mai sau con cháu Dương Thực sẽ được nâng niu, quý giá như vòng bạc, làm ăn thịnh đạt.

Kết cỏ ngậm vành là hành vi tạ ơn đã cứu thoát khỏi lúc tai ương, đau khổ. Là thân con người, người Việt ý thức mình là một dân tộc nhỏ nhoi, biết được sự bèo bọt của mình, những lạc điệu vô lối của mình, nên có chút gì có thể đáp lại được thì cũng cố mà làm để báo ân. Nguyễn Du viết:

“rằng tôi bèo bọt chút thân

Lạc đàn mang lấy nợ nần yến anh

Dám nhờ cốt tử nhục sinh

Còn nhiều kết cỏ ngậm vành về sau.

Theo ý của Nguyễn Du, kết cỏ ngậm vành là lời đoan hứa sau khi được trời hoặc người thương giúp trong khi gặp khốn khó. Như thế, trong một tình tự dân tộc vốn dĩ sống hài hoà nhưng luôn gặp bất trắc, những khi bất trắc chẳng biết cậy dựa vào ai chỉ biết van vái cầu trời, thương giúp.

Có nơi người ta thay vì kết cỏ, người ta hạ mình thấp hơn trong hành vi cắn cỏ.

Tại một số vùng để tỏ lòng thảm thiết, khốn khổ vô hạn, người ta gục đầu sát đất, miệng ngậm cỏ van vái trời hoặc có thể trét đất, bùn, tro, trấu, lên đầu lên cổ mình. Hành vi “cắn cỏ” nói lên sự khốn khổ của họ, tách ra khỏi vòng nhân sinh, sống như loài giun loài dế, hàng súc vật không hơn không kém. Đó là dấu chỉ đau đớn muộn phiền, ngoài ra việc cắn cỏ còn nói lên việc ăn chay, hãm mình, đánh tội, có thể nói đó là hành vi khiêm tốn hạ mình trước Đấng siêu việt. Trong tâm thức người Việt hành vi ăn chay, đánh tội là một việc đơn thường. Do tính chất của người Việt là nghề nông, nên tính cách Việt cũng mang tính nhẹ nhàng hơn, có thể lấy ví dụ như: Tình người cha đối với con, nó là một thứ tình bình thản như đồng lúa êm ả. Nó không sôi sục, cháy bỏng như tình con chim Pélican của Alfred de Vingy, khi con đói, cha tìm mồi mỏi cánh không ra, trở về rỗng không, vì thương con, cha tự mổ bụng để con rút thịt mình ra ăn. Cái tình cha người Việt nó tự tại như tre già, để mặc sức người ta chặt mình để cho măng mọc lên. Tình cha như muốn thể hiện, mà lại không biết cách nào tỏ ra hiển hiện. Thầm lặng mà sâu, nhợt nhạt mà lại bền bỉ, đằm thắm mà nồng nàn. Việc đánh tội, phạt xác, lấy roi tự đánh mình, nó mạnh mẽ như cách thể hiện của con chim Pélican, tự mổ bụng mình. Còn với người Việt việc đánh tội ấy giống như cái tình cha người Việt nó tự tại như tre già, để mặc sức người ta chặt mình để cho măng mọc lên. Khi đem việc dùng roi đánh mình phạt xác áp dụng vào văn hoá Việt, thấy có vẻ ghê rợn quá sức, có thể làm cho nhiều người lương, thấy có vẻ kỳ quặc, dị nghị.

_________________



Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://c16vuilachinh.forumandco.com
Lopchuongc16
Admin
Admin
avatar

Nam
Tổng số bài gửi : 766
Age : 26
Location : C16- THPT Trần Phú
Tên : Student
Chức vụ hiện tại : Lớp trưởng C16
Registration date : 05/02/2008

Bài gửiTiêu đề: Re: Lòng thương xót - Bí tích hòa giải   Thu Apr 03, 2008 4:05 pm

4. Lòng thương xót



Gặp được lòng thương xót của Thiên Chúa.

Lòng thương xót thật bất ngờ, bất ngờ theo cách thức bỏ lại 99 con chiên để lên đường tìm 1 con chiên lạc. Lòng thương xót không là cách tính của người buôn bán kiếm lời, bởi người buôn bán có thể hy sinh 1 đồng để giữ lại chắc chắn cho 99 đồng còn lại, càng không phải là cách thức của người quản lý, hy sinh 1 để thâu lãi thêm gấp mười. Lòng thương xót của Thiên Chúa không phải là bài tính toán lời lỗ mà là cho đi đến không cùng. Không ai như Thiên Chúa, Thiên Chúa quá yêu thương con người, cho dù đó là một người tội lỗi chống lại Người đi chăng nữa. Thiên Chúa là Đấng tìm kiếm, là Đấng chăn chiên nhân hậu cách thực sự.

Thiên Chúa, Người đã làm lay động bao nhiêu cách tính toán của con người. Có người đã thổ lộ như thế sau chặng đường đã gặp, đã thấy : “Tôi đã từng coi thường những người nghiện, vì không thể chấp nhận được những con người đem cuộc đời mình mà vất đi như thế”. Bình thường theo cách của con người là vậy, làm sao có thể chấp nhận được cuộc đời của mình chỉ phục vụ cho những con người dại dột vất đời mình đi như thế. Lo cho những người bình thường thôi cũng đã đủ thấm, còn phải lo cho cả những kẻ đốt đời mình thì quá là “người của quần chúng”, lo “những chuyện bao đồng”. Thiên Chúa lại đi theo cách ngược với người đời, bỏ lại 99 con chiên lành đi tìm 1 con chiên lạc. Khó có thể chấp nhận được, vậy mà cũng có bao nhiêu người lại theo cách thức ấy của Thiên Chúa. Chỉ cần cứu được một cuộc đời mà có khi phải mất đến bao nhiêu là đau khổ và nước mắt. Nước mắt của bà mẹ già, của người cha, của những người thân, giọt mồ hôi của bao tấm lòng lương y, của những con người có tấm lòng, lo âu, thức đêm trằn trọc với những cơn dằn vặt của con nghiện hoặc chích quá liều.

Nếu thử hỏi có điều gì khiến họ có thể thực hiện được điều ấy, thì phải chăng chỉ có thể lý giải được bằng chữ tình yêu. Tình yêu cho đến cùng là tình yêu thể hiện cách ngược đời, tha thứ tất cả, đón nhận tất cả. Có đón nhận tất cả nên mới có cách thức ngược đời, hy sinh sức khoẻ, trí lực của mình để cứu lấy một con người hư hỏng. Có bao người đã đánh đổi cả cuộc đời mình để cứu lấy những con người lạc mất.

Một sự hy sinh hao tốn rất lớn tiềm năng của nhân loại, thay vì những hy sinh ấy để thăng tiến con người tốt hơn nhưng lại chỉ để cứu lấy những cuộc đời bình thường đánh mất. Đó là những tiếc rẻ của những bài tính thế gian. Tiếc cho một thời trai trẻ, tiếc cho một phận người đánh mất và tiếc cho cuộc đời bị đánh đổi bởi giả trá.

Khó mà lý giải được cách thức thực hiện của tình yêu, tình yêu là cứu lấy, cho nên đòi nhiều nỗ lực hơn, kiên nhẫn hơn, can trường hơn và có khi đòi cả chính mạng sống. Thông thường, để thăng tiến cho những điều tốt lành đã là khó, cách thức của tình yêu chữa lành lại càng khó hơn. Khó hơn bởi vì sự xấu không bao giờ đơn độc, khó hơn vì không bao giờ được phép tiêu diệt những con người xấu. Những người lo cho việc cai nghiện rất kinh nghiệm điều này, để cứu lấy một người nghiện còn khó hơn gấp ngàn lần chữa một căn bệnh. Hiểu được điều này vén mở cho thấy một điều khác hơn. Đó là hiểu được phần nào Tình yêu được gọi là vô biên của Thiên Chúa. Khi Thiên Chúa sáng tạo vạn vật Thiên Chúa chỉ dùng bằng Lời, khi Thiên Chúa sáng tạo nên con người, Thiên Chúa đã sáng tạo bằng hành động, bằng nghĩ suy, nhưng để cứu lấy con người Thiên Chúa lại trao ban chính Con Duy Nhất của Người cho nhân loại. Trao Người Con Duy Nhất cho nhân loại, để nhân nhân loại đóng đinh Người Con ấy vào Thập Giá, Đấng vô tội chết như một người tử tội.

Thật khó mà hiểu được nếu không có sống tình yêu, không sống tình yêu người ta sẽ loại trừ những thành phần hư hỏng để trong sạch hoá xã hội nhân sinh, không có tình yêu, người ta sẽ khai thác triệt để những con nghiện để kiếm lời cho tài sản của họ. Không có tình yêu con người sẽ chống lại con người, kết quả của nó là thảm kịch của khủng bố, thảm kịch của bóc lột, của gian tham. Nói tiếng nói của tình yêu là nói ngược lại với toan tính lời lỗ của trần thế. Sống tình yêu là sống trái với quy luật của thương trường, của lợi lộc, của địa vị, quyền bính.

Được mời gọi sống tình yêu nên người Kitô hữu cũng được mời gọi lên đường tìm kiếm con chiên lạc. Bỏ lại những ích kỷ sau lưng, bỏ lại những quyền lợi, địa vị xứng đáng có, bỏ lại những gì đang có cách chính đáng để đi tìm con chiên lạc đã mất. Bỏ ích kỷ đã là điều khó, còn đòi bỏ cả những gì chính đáng mình đang được hưởng lại càng khó hơn. Cái khó hơn ấy đã có nhiều người lại thực hiện được, chính vì vậy mà làm lay động nhiều nghĩ suy của người khác.

Có thể tin không một người đã cai nghiện trở về gia đình của mình, lại trở thành một nhân tố tích cực xây dựng giờ kinh tối cho toàn thể gia đình. Nên mừng hay nên buồn cho thành viên này, có lẽ cả hai. Cả hai, vì trước kia em là người làm phiền lòng cho bao nhiêu người khác, hôm nay lại là mừng vui bất tận, bởi vì bao người đã tìm lại được con người của chính em đã đánh mất.

Có thể tin không, một con người mang mầm bệnh Aid lại trở thành chứng nhân cho Tình Yêu kiếm tìm mà anh được tìm về. Con chiên lạc trở thành chứng nhân cho 99 con chiên còn lại. Bài toán quá chênh vênh và khó lý giải cho toàn bộ đáp số.

Sự hoạt động của những con người dấn thân làm lay động những cuộc đời đang sống chính đáng, hẳn là con số 99 còn lại cũng nghĩ suy, cũng lay động, thay đổi. Những giá trị về lòng nhân ái đang được đào sâu, nhờ những con người đang dấn thân cho Tình Yêu và cuộc đời trở nên những giá trị.

Có thể tin vì phép lạ của tình yêu vẫn xảy ra, chính tình yêu cứu vớt cuộc đời, chính tình yêu đưa con người vào sự sống và tình yêu đưa con người sống là người hơn. Nếu tôi có tình yêu đủ lớn, tôi cũng có thể sống vui hơn và sống có ý nghĩa hơn cho người khác.

Bài toán của tình yêu chứng minh một cách hiệu quả hơn bất cứ một bài toán nào khác. Không những chỉ cứu lấy 1 mà cứu lại toàn bộ 100.

Tình yêu làm cho cuộc sống nên tốt hơn, tôi tin là như thế và còn tin hơn nữa vào Tình Yêu làm cho sống và được sống dồi dào.

_________________



Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://c16vuilachinh.forumandco.com
Lopchuongc16
Admin
Admin
avatar

Nam
Tổng số bài gửi : 766
Age : 26
Location : C16- THPT Trần Phú
Tên : Student
Chức vụ hiện tại : Lớp trưởng C16
Registration date : 05/02/2008

Bài gửiTiêu đề: Re: Lòng thương xót - Bí tích hòa giải   Thu Apr 03, 2008 4:06 pm

5. Linh Mục người thể hiện tình yêu của Thiên Chúa giữa trần gian.



Khi ban bí tích sám hối, linh mục giống như người đi chăn chiên tìm con chiên lạc, như người Samaria nhân hậu đón nhận người thương tật và đem chữa lành, , như người cha nhân hậu đón đợi người con trở về, như người quan án xét xử công bằng và nhân hậu. Không phải như là chính linh mục tha thứ, nhưng người linh mục thể hiện tình yêu thương của Chúa trên trần gian, chính Thiên Chúa băng bó, chữa lành vết thương lòng. Linh mục là dấu chỉ và khí cụ của lòng thương xót của Thiên Chúa. Không chỉ là một khí cụ vô tâm, người linh mục cần thông hiểu đoàn chiên của mình, chia sẻ những khốn cùng đau thương của con người, có kinh nghiệm về những gì liên quan đến con người. Người linh mục như lòng Chúa mong ước là người có trái tim biết đón nhận những gì chưa thành tòan của hối nhân, để cầu nguyện và đền tội giúp hối nhân và phó thác họ cho lòng thương xót của Thiên Chúa.



Việc chữa lành đòi hỏi sự tôn trọng và tế nhị đối với hối nhân, cho nên mọi bí mật của hối nhân xưng ra trong toà giải tội, không bao giờ được phép tiết lộ. Ấn tích của Toà giải tội không có luật trừ nào cho việc tiết lộ.

Cách đây khá lâu vào năm 1988, trong tập san “kiến thức ngày nay” người ta có đăng một bài viết về “Ngôi mộ cô đơn”, câu chuyện kể về một linh mục giải tội, cốt truyện như sau: Một tên cướp vào một đêm nọ đột nhập vào phòng cha xứ, hắn không lấy gì hết ngoại trừ chiếc áo dòng và đôi giầy của vị linh mục để mặc vào. Sau khi đóng giả là vị linh mục hắn đến nhà một người phụ nữ giàu có và lớn tuổi. Sau khi nhấn chuông hắn chờ đợi, từ trong nhà bà cụ nhìn qua lỗ cửa thấy bóng dáng một linh mục, bà an tâm mở cửa. Bà vừa mở cửa, tên cướp mau chóng tóm lấy bà và tra khảo tiền bạc của bà, sau khi lấy được của, hắn giết chết bà. Hắn trở lại phòng của vị linh mục, lay ngài dậy và xin xưng thú tất cả những gì đã làm, trả lại áo dòng, đôi giầy và bỏ đi. Mấy ngày sau, người ta theo dấu vết khám phá ra vị linh mục chính là kẻ sát nhân. Người ta bắt ngài và kết án chung thân, ngài không thể nói điều gì thanh minh cho mình được và vui lòng đón nhận bản án. Án chung thân của ngài, được thực hiện tại một vùng đảo xa, chung quanh hòn đảo ấy đầy những đàn cá mập hung dữ. Ngày đầu tiên trên đảo, các tù nhân trên đảo ấy, biết ngài là một linh mục chịu án sát nhân, họ khinh thường sỉ vả người linh mục cách thậm tệ, người linh mục vẫn im lặng chịu vậy. Vài năm lao động cực khổ trôi qua, vì là người hiểu biết nhiều người ta giao cho ngài trách nhiệm coi phòng thuốc phát cho tù nhân, ngài thực hành không giống như những người coi phòng thuốc trước đây, mỗi khi xin thuốc đều phải đút lót nhiều ít thì may ra mới lãnh được ít thuốc. Ngài chăm sóc bệnh nhân cách tận tình không vụ lợi, dân dần người ta không còn nhớ đến lỗi lầm của ngài khi mang bản án, có đôi khi người ta cũng thắc mắc, một linh mục nhân hậu như thế không thể là một tên sát nhân được. Nhiều người trên đảo nhận ra ngài là một người cha đúng nghĩa, họ bắt đầu tuôn đến ngài không chỉ được chữa lành phần xác mà cả phần hồn. Nhiều năm sau, những ngày cuối đời của ngài, có một chiếc tàu từ đất liền chở ra những người tù chung thân mới, trên chiếc tàu ấy, có tên sát nhân năm xưa, hắn bị bắt có quả tang giết người. Hắn đến đảo và sống trên đảo ấy, hắn nghe nói rất nhiều về câu chuyện của người linh mục phạm tội sát nhân, nhưng lại là người rất nhân hậu, hắn nhớ lại cái án chung thân khổ sai trước đây hắn đã tránh được khi đổ tội cho vị linh mục. Hắn nghe nhiều điều qua tốt lành về ngài, lúc đầu hắn còn làm ngơ đi, nhưng không thể làm ngơ được mãi, bởi vì chính hắn cũng có một ngày, cần đến sự chăm sóc của vị lương y già. Ngài đã hết lòng chăm sóc hắn như người con. Xúc động vì việc ngài làm cho hắn, hắn đã tự thú tất cả những điều hắn đã gây ra trước đây và minh oan cho vị linh mục. Mọi người nhận ra sự thật, nhưng cũng là những ngày cuối đời của vị linh mục, trước khi ngài mất, ngài để lại chúc thư cho những người có quyền, xin tha án cho kẻ đã hại ngài, để hắn có một cơ hội phục hồi nhân cách và sống những điều tốt đẹp mà hắn chưa từng sống. Ngài đã qua đời trong sự an bình giữa những vòng tay người thân yêu trên đảo. Theo thông lệ, những xác của tù nhân sau khi chết sẽ được thuỷ táng, nhưng đối với vị linh mục, người ta đề nghị xin được chôn cất ngài trên đảo. Một sự kiện duy nhất trện đảo, mà người viết lại câu chuyện này chính là người tù khổ sai sau khi được ân xá nhờ di chúc của vị linh mục, ông đã đặt tên cho cuốn sách là “Ngôi mộ cô đơn”.

Linh mục cũng là một hối nhân, cũng là người cần đến lòng thương xót của Thiên Chúa. Cuộc sống phủ bụi đi nhiều hình ảnh, dấu chỉ của Thiên Chúa nơi người linh mục, cần có những cuộc tĩnh tâm, những lần lau sạch để làm mới lại trong Đức Kitô. “Đời sống linh mục có thể bị suy thoái nếu chính họ thờ ơ, hoặc vì một lý do nào khác, không đến với Bí tích Hoà Giải một cách đều đặn với đức tin và lòng sốt sắng đích thực. Nếu một linh mục không còn đi xưng tội nữa hoặc xưng tội không nên thì sứ vụ linh mục của ngài sẽ sớm bị ảnh hưởng, và chính cộng đoàn do linh mục dẫn dắt sẽ nhận ra điều đó”… “chúng ta, các linh mục khởi đi từ kinh nghiệm cá nhân mình, có thể nói chắc chắn rằng, càng tìm đến bí tích hoà giải thường xuyên với sự chuẩn bị kỹ lưỡng, chúng ta càng đảm nhiệm tốt hơn tác vụ giải tội và bảo đảm rằng, các hối nhân sẽ hưởng được ân phúc nhiều hơn. Trái lại, tác vụ này sẽ mất nhiều hiệu năng nếu một cách nào đó, chúng ta không còn là những hối nhân thực thụ nữa.”[2]

_________________



Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://c16vuilachinh.forumandco.com
Lopchuongc16
Admin
Admin
avatar

Nam
Tổng số bài gửi : 766
Age : 26
Location : C16- THPT Trần Phú
Tên : Student
Chức vụ hiện tại : Lớp trưởng C16
Registration date : 05/02/2008

Bài gửiTiêu đề: Re: Lòng thương xót - Bí tích hòa giải   Thu Apr 03, 2008 4:06 pm

6. Hướng dẫn của Giáo Hội về Mục vụ Bí Tích: Trích tự sắc “Lòng thương xót”.



Vì vậy, sau khi tham khảo ý kiến của Bộ Giáo Lý Đức Tin, Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích, và Hội Đồng Giáo Hoàng về Giải Thích Các Văn Bản Pháp Quy, và sau khi nghe ý kiến của Anh Em Hồng Y tôn kính phụ trách các bộ phủ trong giáo triều Rôma, và tái khẳng định tín lý Công Giáo về Bí Tích Thống Hối và Hòa Giải được tóm tắt trong Giáo Lý Công Giáo, 11nhận thức về trách nhiệm mục tử của tôi và hoàn toàn ý thức về nhu cầu của Bí Tích này cũng như hiệu năng lâu dài của nó, tôi truyền như sau:



1. Các Đấng Bản Quyền phải nhắc nhở các thừa tác viên của Bí Tích Giải Tội rằng luật phổ quát của Giáo Hội, ứng dụng tín lý Công Giáo trong phạm vi này, đã quy định rằng:



a) "Phép xá giải và phần không thể thiếu được là việc xưng tội riêng là cách thế thông thường duy nhất mà người tín hữu, có ý thức về tội trọng, có thể hòa giải với Thiên Chúa và Giáo Hội; chỉ những lý do bất khả về thể lý hay luân lý mới được chuẩn chước khỏi cách xưng tội như thế, trong trường hợp đó ơn hòa giải có thể nhận được bởi những cách thức khác". [3]



b) Do đó, "tất cả những ai có nhiệm vụ chăm sóc cho các linh hồn buộc phải bảo đảm rằng khi được người tín hữu yêu cầu cách hợp lý, họ sẽ thực hiện công việc đã được ký thác cho họ là nghe xưng tội, và rằng các tín hữu được cho cơ hội để xưng tội cá nhân, vào những ngày và giờ quy định thuận lợi cho các tín hữu".[4]



Hơn thế nữa, tất cả linh mục với năng quyền ban phát Bí Tích Giải Tội phải luôn luôn chứng tỏ họ nhiệt tình muốn ban phát bí tích này bất cứ khi nào người tín hữu đưa ra lời thỉnh cầu hợp lý.[5] Một sự miễn cưỡng chào đón con chiên bị thương, ngay cả việc không sẵn lòng bước ra với họ để mang họ về trong đàn, là một dấu chỉ xấu của sự thiếu nhạy cảm mục vụ nơi những người, mà qua việc được Thụ Phong linh mục, cần phản chiếu hình ảnh của vị Mục Tử Tốt Lành.



2. Các đấng Bản Quyền Địa Phương, các linh mục coi xứ, và những vị coi sóc các thánh đường và đền thờ, cần phải xác minh thường xuyên rằng các tín hữu đã được dành cho cơ hội tốt nhất để xưng tội. Đặc biệt đề nghị rằng tại những nơi thờ phượng, các cha giải tội phải hiện diện tỏ tường vào những thời điểm đã niêm yết, những thời điểm này phải thay đổi cho phù hợp với những hoàn cảnh thực sự của hối nhân, và đặc biệt việc xưng tội phải có thể thực hiện được trước Thánh Lễ, và ngay cả trong Thánh Lễ nếu có những linh mục khác, để đáp ứng nhu cầu của giáo dân.[6]



3. Vì "người giáo dân buộc phải xưng ra, theo từng loại và số lần phạm, tất cả tội trọng đã phạm sau khi được Rửa Tội mà họ ý thức sau khi xét mình cẩn thận và chưa được tha bởi năng quyền tháo gỡ của Giáo Hội, cũng chưa được thú nhận trong khi xưng tội riêng",[7] mọi thực hành giới hạn việc xưng tội trong việc xưng thú tổng quát hay chỉ giới hạn vào một hay hai tội được đánh giá là quan trọng hơn cả đều đáng bị khiển trách. Thực ra, trong quan điểm mọi tín hữu đều được mời gọi để nên thánh, họ được khuyến khích để xưng cả các tội mọn nữa.[8]



4. Dưới ánh sáng và trong khuôn khổ của những chuẩn mực trên, việc xá giải một số hối nhân cùng lúc mà không có việc xưng tội trước, như dự kiến trong điều 961 của Bộ Giáo Luật cần phải được hiểu và ban phát đúng. Việc xá giải như thế thực ra là "bất thường"[9] và "không thể được thực hiện trong những cách thức thông thường trừ khi:



1. Trong hoàn cảnh nguy tử đang ập đến và không có thời gian đủ cho linh mục hay các linh mục nghe xưng tội của từng hối nhân;



2. Nhu cầu cấp thiết nghiêm trọng xảy ra, nghĩa là, khi đứng trước con số hối nhân mà không đủ số cha giải tội để có thể nghe giải tội trong một cách thế xứng hợp trong một thời gian phù hợp khiến cho các hối nhân bị tước mất ân sủng bí tích hay không được Rước Mình Thánh Chúa trong một thời gian dài mà không phải do lỗi của họ; [tuy thế]không thể coi là cần thiết đủ nếu thiếu các cha giải tội chỉ vì số lượng lớn của hối nhân, như có thể xảy ra trong các dịp lễ lớn hay hành hương"[10]



Liên hệ đến trường hợp nhu cầu cấp thiết nghiêm trọng, cần minh bạch như sau:



a) Nhu cầu cấp thiết nghiêm trọng quy chiếu đến những hoàn cảnh bất thường một cách khách quan, chẳng hạn có thể xảy ra tại các xứ truyền giáo hay tại các cộng đoàn tín hữu biệt lập, khi các linh mục chỉ có thể viếng thăm một vài lần trong năm, hay trong điều kiện của chiến tranh hoặc thời tiết hay những yếu tố tương tự.



b) Không thể tách rời hai điều kiện nhằm xác định nhu cầu cấp thiết nghiêm trọng đã được quy định trong khoản 961 của bộ Giáo Luật. Do đó, không thể chỉ xét riêng sự kiện là người tín hữu có thể được nghe xưng tội "trong một cách thế xứng hợp" và "trong một thời gian phù hợp" do việc thiếu linh mục hay không; mà điều này phải được phối hợp với sự kiện là liệu hối nhân có bị tước mất hồng ân bí tích "trong một thời gian dài", mà không phải do lỗi của họ hay chăng. Thành ra, cần phải tính đến toàn bộ các hoàn cảnh của các hối nhân và của Giáo Phận, trong những gì liên quan đến tổ chức mục vụ của giáo phận và khả năng của tín hữu có thể tiếp cận với Bí Tích Giải Tội.



c) Điều kiện đầu tiên, nghĩa là việc không thể nghe xưng tội "trong một cách thế xứng hợp" "trong một thời gian phù hợp", chỉ liên hệ đến thời gian đòi hỏi cách hợp lý cho các yếu tố của một cử hành hợp lệ và xứng đáng Bí Tích này. Ở đây không đặt vấn đề về các đối thoại mục vụ mở rộng hơn, mà có thể để dành lại trong những hoàn cảnh thuận lợi hơn. Thời gian hợp lý và xứng hợp cho việc nghe xưng tội sẽ tùy thuộc vào khả năng cụ thể của cha giải tội hay các cha giải tội, và của chính các hối nhân.



d) Điều kiện thứ hai đòi hỏi một sự phán đoán thận trọng trong việc đánh giá thời gian bao lâu hối nhân có thể bị tước đi hồng ân bí tích trong điều kiện bất khả thực sự như được mô tả trong điều 960 của Giáo Luật, với giả định rằng không có tình trạng nguy tử gần kề. Một sự phán đoán như thế sẽ không là thận trọng nếu nó bóp méo ý thức về sự bất khả thể lý và luân lý như thường xảy ra, chẳng hạn, nếu coi một thời gian ít hơn một tháng là "một thời gian dài" trong tình trạng bị tước đoạt ơn thánh.



e) Không thể chấp nhận việc tạo nên hoặc cho phép tạo nên những hoàn cảnh có vẻ là cấp thiết nghiêm trọng, xuất phát tự sự cử hành không bình thường của Bí Tích Thống Hối vì không tuân giữ các qui luật nói trên đây,[11] và càng không thể chấp nhận sự chọn lựa của các hối nhân muốn lãnh nhận sự xá giải tập thể, như thể đó là một điều thông thường tương đương với hai hình thức bình thường được mô tả trong sách Nghi Thức Thống Hối.


f) Chỉ nguyên sự kiện có đông hối nhân không đủ để cấu thành sự cấp thiết nghiêm trọng không những trong các dịp lễ trọng hoặc hành hương, mà cũng vậy đối với việc du lịch hoặc vì những lý do khác do tính chất lưu động ngày càng gia tăng của con người tạo nên.



5. Người có thẩm quyền xác định xem có đủ điều kiện theo khoản Giáo Luật số 961 triệt 1 và 2 hay chăng không phải là Cha Giải Tội nhưng là "Đức Giám Mục Giáo Phận sau khi xét đến các tiêu chuẩn đã thỏa thuận với các thành viên khác trong Hội Đồng Giám Mục, Ngài có thể xác định những trường hợp nào được coi là cấp thiết". [12]

Những tiêu chuẩn mục vụ trong những lãnh thổ liên hệ phải biểu lộ sự tìm kiếm và trung thành hoàn toàn với các tiêu chuẩn căn bản được kỷ luật chung của Giáo Hội mô tả. Các tiêu chuẩn này cũng dựa trên những đòi hỏi phát xuất từ chính Bí Tích Thống Hối do Chúa thiết lập.



6. Trong vấn đề rất quan yếu đối với đời sống Giáo Hội này, điều tối quan trọng là sự hòa hợp hoàn toàn giữa các hàng Giám Mục với nhau trên thế giới, các Hội Đồng Giám Mục chiếu theo khoản 455 triệt 2 của Bộ Giáo Luật, hãy sớm gởi về Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích văn bản các qui luật mà các Hội Đồng Giám Mục muốn công bố hoặc cập nhật dưới ánh sáng tự sắc này về việc áp dụng khoản Giáo Luật số 961. Việc này sẽ tạo điều kiện cho sự hiệp thông ngày càng sâu rộng hơn giữa các Giám Mục trong toàn thể Giáo Hội, thúc đẩy ngày càng nhiều các tín hữu khắp nơi kín múc dồi dào nơi nguồn mạch lòng từ bi của Thiên Chúa qua Bí Tích Hòa Giải.



Trong viễn tượng hiệp thông này, các Giám Mục Giáo Phận cũng nên tham chiếu các Hội Đồng Giám Mục liên hệ về việc kiểm điểm những trường hợp cấp thiết nghiêm trọng trong khuôn khổ quyền tài phán của mình. Tiếp đến nhiệm vụ của Hội Đồng Giám Mục là thông báo cho Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích về tình hình cụ thể trong lãnh thổ của mình và những thay đổi nếu có diễn ra sau đó.

_________________



Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://c16vuilachinh.forumandco.com
Lopchuongc16
Admin
Admin
avatar

Nam
Tổng số bài gửi : 766
Age : 26
Location : C16- THPT Trần Phú
Tên : Student
Chức vụ hiện tại : Lớp trưởng C16
Registration date : 05/02/2008

Bài gửiTiêu đề: Re: Lòng thương xót - Bí tích hòa giải   Thu Apr 03, 2008 4:06 pm

7. Về những điều kiện bản thân của hối nhân, cần phải tái khẳng định rằng:



a) "Để lãnh nhận hữu hiệu ơn xá giải ban một trật cho nhiều người, các tín hữu không những phải có tâm tình thích đáng, nhưng còn phải dốc lòng cách riêng sẽ đi xưng tội riêng các tội trọng mà trong lúc này mình không thể xưng được" [13].



b) Khi có thể được, ngay cả trong trường hợp nguy tử, cần cố gắng hết sức khuyên nhủ "mỗi người lo việc đền tội" [14].



c) Rõ ràng rằng các hối nhân sống trong tình trạng thường xuyên với các tội trọng và những ai không có ý định thay đổi tình trạng của họ không thể nhận được ơn xá giải cách thành sự.



8. Bổn phận phải "xưng các tội trọng mỗi năm ít nhất một lần"[15] vẫn còn hiệu lực, và do đó "một người có tội trọng đã được tháo gỡ bởi việc xá giải chung phải đi xưng tội riêng ngay khi có cơ hội trước khi nhận một phép xá giải chung khác, trừ phi có ngăn trở chính đáng"[16] .



9. Liên quan đến nơi chốn và tòa giải tội để cử hành Bí Tích này, cần nhớ rằng:



a) "Nơi chốn thích hợp để nghe xưng tội là nhà thờ hay một nguyện đường",[17] mặc dù đã rõ là những lý do mục vụ có thể biện minh cho việc cử hành Bí Tích này tại các địa điểm khác.[18]



b) Các tòa giải tội cần theo các chuẩn định ban hành bởi các Hội Đồng Giám Mục, những đấng phải bảo đảm rằng các tòa giải tội phải được bố trí tại một "khu vực không hạn chế" và có "lưới che", sao cho các tín hữu và các cha giải tội có thể sử dụng chúng dễ dàng khi cần.[19]



Tôi truyền rằng mọi điều tôi đã quy định trong Tông Thư được ban hành dưới dạng Tự Sắc có hiệu lực đầy đủ và chung thẩm và phải được tuân thủ từ hôm nay trở đi, bãi bỏ bất cứ điều khoản nào ngược lại. Tất cả những gì đã truyền trong Thư này, tự bản chất, có giá trị cho các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương theo quy định của Giáo Luật tương ứng dành cho họ. (Gioan PhaoLô II, ngày 07 – 4 - 2002)



Bí tích hoà giải là bí tích gặp gỡ lòng thương xót của Thiên Chúa, linh mục là thừa tác viên cho lòng thương xót ấy. Xin cho dấu chỉ tình thương của Chúa mỗi ngày sáng hơn trong chúng con.

_________________



Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://c16vuilachinh.forumandco.com
no_fear_anything
Yêu C16
Yêu C16
avatar

Nam
Tổng số bài gửi : 362
Age : 26
Location : MC_Norules bang
Tên : akho
Chức vụ hiện tại : qua^n su dep. trai
Registration date : 14/02/2008

Bài gửiTiêu đề: Re: Lòng thương xót - Bí tích hòa giải   Wed Apr 09, 2008 8:25 pm

hok hiu? gy` hit
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://aidepbangtao.cum
Lopchuongc16
Admin
Admin
avatar

Nam
Tổng số bài gửi : 766
Age : 26
Location : C16- THPT Trần Phú
Tên : Student
Chức vụ hiện tại : Lớp trưởng C16
Registration date : 05/02/2008

Bài gửiTiêu đề: Re: Lòng thương xót - Bí tích hòa giải   Wed Apr 09, 2008 9:28 pm

Hình như cái bài này là truyền đạo

_________________



Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://c16vuilachinh.forumandco.com
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Lòng thương xót - Bí tích hòa giải   

Về Đầu Trang Go down
 
Lòng thương xót - Bí tích hòa giải
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
.:C16:. :: Trung tâm Giải trí :: Nghệ thuật sống-
Chuyển đến